Những Bộ Phim Việt Nam Được Thế Giới Vinh Danh (Phần 1)

Tuy nền điện ảnh Việt Nam vẫn còn non yếu so với thế giới nhưng chúng ta vẫn có những đạo diễn tài năng, những tác phẩm/ bộ phim vô cùng xuất sắc. Không chỉ đạt những thành tích cao trong nước, những tác phẩm/ bộ phim Việt Nam này còn được cả thế giới biết đến cũng như các chuyên gia nước ngoài công nhận. Nếu bạn yêu thích việc học làm phim hay chỉ đơn giản là thích xem phim, đừng bỏ qua danh sách phim Việt Nam vang danh thế giới được UniDesign tổng hợp dưới đây nhé!

1. Cánh Đồng Hoang

Năm sản xuất: 1979

Đạo diễn: Nguyễn Hồng Sến 

Nội dung phim: Bối cảnh chính là vùng Đồng Tháp Mười trong những ngày diễn ra cuộc Chiến tranh Việt Nam. Vợ chồng Ba Đô và đứa con nhỏ sống trong một căn chòi nhỏ giữa dòng nước. Họ được Cách mạng Việt Nam giao nhiệm vụ giữ đường dây liên lạc cho bộ đội.

Giải thưởng:

  • Quốc tế: Huy chương vàng (Golden Prize). Giải đặc biệt của Liên đoàn Báo chí quốc tế (Prix FIPRESCI) tại LHP Quốc tế Moscow lần thứ 12 (1981).
  • Trong nước: Bông sen Vàng LHP VN 1980 cho Phim hay nhất, Biên kịch xuất sắc (Nguyễn Quang Sáng), Nam diễn viên chính xuất sắc (Lâm Tới), Quay phim xuất sắc (Đường Tuấn Ba)…

2. Con Chim Vành Khuyên

Năm sản xuất: 1962

Đạo diễn: Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ

Nội dung phim: “Con chim vành khuyên” kể về hai cha con bé Nga làm nhiệm vụ bí mật đưa đò chở cán bộ cách mạng qua sông. Trong một lần làm nhiệm vụ, cha con bé Nga đã bị giặc bắt. Nhưng với mưu trí và sự dũng cảm, Nga đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ các chiến sĩ cách mạng. Trước khi hi sinh, Nga đã mở túi, thả con chim vành khuyên – người bạn thân thiết của mình về với bầu trời tự do.

  • Giải thưởng:
  • Quốc tế: Tháng 7/1962, phim nhận được Giải Đặc biệt của Ban Giám khảo Phim ngắn của Liên hoan Phim quốc tế Carlovy Vary (Tiệp Khắc).
  • Trong nước: Phim đạt giải Bông sen Vàng, đồng thời với Giải thưởng nhân kỉ niệm 20 năm Điện ảnh cách mạng Việt Nam (1953 – 1973) công bố tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ II (1973).

 3. Vĩ Tuyến 17 Ngày Và Đêm

Năm sản xuất: 1972

Đạo diễn: Hải Ninh

Nội dung phim: Kể về cuộc đối đầu giữa nhân dân làng cát của một xã ven biển Gio Linh, do chị Dịu (Trà Giang) lãnh đạo, chống lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa, do tên chỉ huy Trần Sùng (Lâm Tới) cầm đầu, ở bờ Nam của sông Bến Hải, ngay giới tuyến tạm thời chia cắt hai miền đất nước.

Giải thưởng:

  • Quốc tế: Giải Nhất của UNESCO; Giải Bạc LHP Quốc tế Italy.Liên hoan phim quốc tế Moscow 1973, phim đã được nhận giải thưởng của Hội đồng Hoà bình thế giới cùng giải Diễn viên xuất sắc nhất đóng vai chính cho NSND Trà Giang
  • Trong nước: Bông sen Bạc LHP Việt Nam lần thứ V (năm 1980), giải Đạo diễn xuất sắc dành cho đạo diễn Hải Ninh, giải nam diễn viên xuất sắc cho diễn viên Thế Anh (vai Ba Duy)

4. Bao Giờ Cho Đến Tháng Mười

Năm sản xuất: 1984

Đạo diễn: Đặng Nhật Minh

Nội dung phim:Nội dung bộ phim xoay quanh một người phụ nữ tên Duyên phải mang trong mình nỗi đau chồng đã hi sinh sau chuyến đi thăm chồng ở biên giới. Chị chôn giấu bí mật đau khổ này đặc biệt là đối với người cha già đang có bệnh nặng. Chỉ có thầy giáo Khang người đã cứu chị khi chị bị ngã xuống sông mới biết được chuyện chồng chị đã hi sinh. Để an ủi cha, chị đang nhờ thầy giáo Khang viết thư gửi về gia đình để mang lại niềm vui cho gia đình, còn nỗi đau thì một mình chị chịu đựng. Đến khi người cha cảm thấy mình không thể sống bao lâu nữa thì mới bảo Duyên gọi điện cho chồng về để gặp lần cuối. Đến lúc này, thì tin chồng chị đã mất không thể giấu được nữa, …

Giải thưởng:

  • Quốc tế:Giải đặc biệt tại Liên hoan phim Quốc tế châu Á – Thái Bình Dương năm 1989. Bằng khen của Ủy ban Bảo vệ Hòa bình, tại Liên hoan phim Quốc tế Moskva năm 1985. Giải thưởng đặc biệt của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Quốc tế Hawaii năm 1985. Năm 2008, kênh CNN của Mỹ bầu chọn tác phẩm này vào danh sách 18 bộ phim châu Á xuất sắc nhất mọi thời đại.
  • Trong nước: Giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 7 năm 1985

5. Đời Cát

Năm sản xuất: 1999

Đạo diễn: Nguyễn Thanh Vân

Nội dung phim: Câu chuyện về cuộc đời sau chiến tranh của ông Cảnh, một người lính sau nhiều năm chiến đấu tại miền ngược, trở về thăm người vợ của mình sau khi đất nước được thống nhất hoàn toàn. Tình tiết câu chuyện được hé lộ cũng như mẫu thuẫn trong câu chuyện cũng bắt đầu xảy ra khi thời còn chiến đấu, ông Cảnh đã phải lòng Tâm và có cùng với nhau một đứa bé tên Giang. Kịch bản phim được gây dựng xung quanh tâm lí của các nhân vật chính như ông Cảnh, bà Thoa, Tâm, bé Giang, bà Hảo và ông Huy qua sự tương phản đối lập tưởng chừng như một bức tường vô hình nhưng ngược lại lại có tác động mạnh đến lối suy nghĩ của người xem về sự chia cắt giữa con người và con người trong thời kì chiến tranh.

Giải thưởng:

  • Quốc tế: Giải nhất LHP Châu Á- Thái Bình Dương lần thứ 45 năm 2000: : Phim hay nhất, Nữ diễn viên chính xuất sắc (Mai Hoa), Nữ diễn viên phụ xuất sắc (Hồng Ánh). LHP Amiens (Pháp): Giải Đặc biệt của Ban giám khảo. Giải Thưởng Lớn của Tổ chức Công giáo Quốc tế về Điện ảnh và Nghe nhìn (OCIC)
  • Trong nước: Giải Bông sen vàng tại LHP Việt nam lần thứ 13 (năm 2001). Giải xuất sắc nhất của LHP Việt nam lần thứ 13 dành cho: Biên kịch Nguyễn Quang Lập, Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Nữ diễn viên chính Hồng Ánh, Nữ diễn viên phụ Lan Hà.

6. Em Bé Hà Nội 

Năm sản xuất: 1974

Đạo diễn: Hải Ninh

Nội dung phim: Lấy bối cảnh khi Hà Nội bị oanh tạc bởi chiến dịch Linebacker II của quân đội Mỹ vào năm 1972, bộ phim xoay quanh một cô bé 12 tuổi và chuyến hành trình tìm lại gia đình giữa làn khói đạn. Người thủ vai cô bé đó lúc bấy giờ là nữ diễn viên Lan Hương và biệt danh “em bé Hà Nội” vẫn còn gắn liền với cô cho tới tận bây giờ. Tác phẩm của đạo diễn Hải Ninh từng giành giải đặc biệt tại LHP Quốc tế Moscow của Liên Xô cũ.

Giải thưởng:

7. Mùi đu đủ xanh

Năm sản xuất: 1993

Đạo diễn: Trần Anh Hùng

Nội dung phim:Được lấy bối cảnh Sài Gòn (Việt Nam) năm 1951, kịch bản xoay quanh cuộc đời của Mùi. Năm 10 tuổi, Mùi đi ở cho một nhà buôn vải và chứng kiến những góc khuất trong một gia đình tưởng chừng êm ấm, hạnh phúc: những mất mát, lạnh nhạt, những niềm riêng và mong đợi của cả sáu thành viên trong gia đình. Cuộc đời cô cũng đổi thay theo các biến cố của gia chủ khi đến năm 20 tuổi, Mùi phải chuyển qua giúp việc cho nhà Khuyến- bạn của người con trai trưởng Trung. Mùi đã thích Khuyến từ những ngày đầu mới gặp, và chỉ mong một ngày anh nhận ra tình cảm của cô. Không dừng lại ở một kịch bản phim chính kịch đơn thuần, chất thơ khiến bao người xem phải mê mẩn chính là tâm hồn bay bổng cùng sự quan sát tỉ mỉ đã giúp Mùi khám phá ra vẻ đẹp muôn màu và sức hút kì lạ trong những chi tiết giản đơn xung quanh.

Giải thưởng:

 

(Còn tiếp)

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *